Các thay đổi căn bản của nền kinh tế kiến thức đang dẫn đến nguy cơ các nước giàu hút rỗng ruột các nước nghèo như nhện thò vòi hút tinh khiết máu của con mồi cho tới khi chết mà không cần phải trực tiếp sang xâm lăng. Các nước có năng lực tài chính thấp có thể vẫn giữ được những giếng dầu, mỏ than nhưng là các giếng dầu, mỏ than rỗng ruột.
Cách đây không lâu, có phổ biến ý kiến bàn về cái gọi là “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4” sẽ sản xuất các lợi ích cực kỳ to lớn từ các vật phẩm và phục vụ mới với chi phí không đáng kể phục vụ người tiêu xài, khiến cho cuộc sống của con người trở nên dễ dãi hơn và năng suất hơn. Cuộc “Cách mệnh” này dự đoán sẽ là một khuynh hướng lớn có tác động tới phát hành kinh tế - thị trấn hội toàn cầu, của mỗi giang sơn, khu vực, trong đó có Việt Nam.
Vấn đề vô cùng đáng khiếp sợ, thậm chí là nguy khốn nếu như chúng ta không có sự nắm bắt biết rõ ràng và cái nhìn tỉnh táo về thực chất của cái gọi là “cuộc cách mạng” này vì ví như hài lòng nó mà thiếu hiểu nhân thức thấu đáo sẽ dẫn tới những sai lạc trong việc hoạch định chế độ, kế hoạch sản xuất kinh tế phường hội, có thể tác động đến vận mệnh mai sau của quốc gia.
Năm 2011, thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” hình thành lần đầu tiên trong một kế hoạch về công nghiệp cao của Chính phủ Đức nhằm thúc đẩy tin học hóa đóng gói phê duyệt gắn kết máy móc và chuỗi hệ thống vấn đề khiển mưu trí. Chưa đầy 5 năm sau, khái niệm “Kĩ nghệ 4.0” đã được mở mang và Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN4) đã được chọn khiến chủ đề của Diễn đàn Kinh tế Quả đât diễn ra vào bốn tuần 1/2016 tại Davos, Thụy Sỹ.
Phổ quát đơn vị quốc tế, học giả, điển hình là Klaus Schwab, người sáng lập và là chủ toạ Diễn đài Kinh tế Nhân loại 2016 dự đoán “cuộc cách mạng này sẽ làm thay đổi căn bản phương pháp loài người sống, làm việc, và quan hệ với nhau”[1], do đó rộng rãi quốc gia và đã và đang lưu ý xây đắp các kế hoạch, chế độ mới để tương thích với CMCN4.
Mặc dù vậy, cho đến nay chưa có một định nghĩa nào rõ ràng về cái gọi là cuộc cách mạng này ngoài một số ý kiến cho rằng nó dựa trên một số công nghệ như Internet of Things, Internet of service (Internet vạn vật và Internet dịch vụ) [2], trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây hay kĩ nghệ in 3D…[3]
Cuộc cách mệnh 4.0
| Các nước có điều kiện kinh tế eo hẹp có thể vẫn giữ được những giếng dầu, mỏ than nhưng là các giếng dầu, mỏ than rỗng ruột. Ảnh minh họa. newszing. |
Trước tiên, để nói một hiện tượng biến thành một cuộc cách mệnh khác lạ là cách mạng có thuộc tính thế giới, một trong những phương thức cổ kính nhưng đáng tin yêu nhất là nghiên cứu bản chất kinh tế chính trị của hiện tượng.
Theo định nghĩa, cách mệnh là sự xóa bỏ cái cũ để thay thế bằng cái mới tiến bộ hơn. Nó hàm chỉ những đổi mới căn bản, triệt để, có ý nghĩa và tác động rộng khắp xảy ra từ thời điểm tương đối ngắn, và khác lạ, có sự thay đổi cơ bản về nhóm chế biến (LLSX) và quan hệ chế biến (QHSX) trong đó có sở hữu tư liệu đóng hộp (TLSX), công cụ đóng hộp (CCSX) cũng như phân công tích động.
Nhóm đóng gói
Trong khoảng trước đến nay, lịch sử trái đất đã chứng kiến 03 cuộc cách mạng là cách mệnh nông nghiệp, cách mệnh công nghiệp và cách mệnh CNTT, phát hành các nền kinh tế nông nghiệp, công nghệ và tri thức tương ứng, khiến thay đổi cơ bản cơ chế nhân loại công lao và đóng chai. CMCN 4 được cho là dựa trên sự sản xuất của phổ biến công nghiệp, khác biệt là Internet of Things, điện toán đám mây và công nghệ tin tức (CNTT)[4], của trí óc nhân tạo (AI), công nghiệp in 3D, tự động hóa…, như vậy xét về mặt kĩ nghệ, đó chính là CNTT. Bởi thế, có thể nói cái gọi là CMCN4 là thời kỳ phát triển tiếp theo của cách mạng CNTT chứ chẳng phải là gì khác.
Những đổi mới về cách thức đóng gói nhờ CNTT như làm việc trong khoảng xa, học tập trong khoảng xa, buôn bán từ xa, chính phủ từ xa (hay dưới thuật ngữ không xa lạ hơn là thương mại điện tử, chính phủ điện tử), máy móc thay thế nhân loại, ảo hóa… đã được bàn rộng rãi trong các bài viết học thuật về cách mệnh CNTT nên tác giả xin không được trình bày ở đây.
Vấn đề khác lạ lớn nhất ví như có xảy ra so với các cuộc cách mệnh về nông nghiệp, về công nghiệp, chính là nằm ở trong sự đổi mới về quan hệ sản xuất, khác lạ là sự sở hữu, sở hữu về dụng cụ và tư liệu chế biến và phân công lao động, dù rằng những sự thay đổi này diễn ra trong khoảng khi cách mệnh về dịch vụ xây dựng thương hiệu những năm 1960 của thế kỉ 20, được phát triển khác biệt mạnh bạo nhờ CNTT trong những năm cuối thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21 này, trong một cái gọi là “kinh tế kiến thức”.
Nước có điều kiện kinh tế eo hẹp và những giếng dầu, mỏ than rỗng ruột
Nói một cách thức nói chung, kinh tế kiến thức là nền kinh tế phát hành giá trị tư bạn dạng nhân loại (human capital), bao gồm hàng hóa, dịch vụ dựa trên kiến thức, có tính chất vô hình, phi trọng lượng và giá trị mua bán cao (chả hạn trang bị điện tử, phần mềm máy tính, đào tạo, tư vấn, vốn vay…) để trao đổi với các hàng hóa khác, trong đó có hàng hóa vật chất, cốt yếu là tư phiên bản tự nhiên (natural capital). Các trao đổi này được bảo hộ duyệt y các định chế nhạo non sông, đa nước nhà và quốc tế như các hiệp nghị thương nghiệp, điển hình là các hiệp nghị thương mại trong WTO.
Nếu như trong nền kinh tế công nghệ thế kỷ 19, tư liệu chế biến thuộc giới chủ, người lao động là người lao động không nắm giữ trong tay TLSX và cả 2 giới này chủ chốt ở trong cùng một nước nhà thì trong nền kinh tế tri thức hiện thời, TLSX và CCSX thuộc các nước giầu, người giầu hoặc các doanh nghiệp đa quốc gia của các nước giầu; người làm mướn, công lao thuộc các nước nghèo.
Như vậy trong nền kinh tế kiến thức của thế kỉ 21, có sự thay đổi về phân công trạng động mang tính toàn cầu thay vì sự phân công trạng động trong bờ cõi một quốc gia dẫn tới phân hóa giữa nước giầu và nước nghèo thay thế cho sự phân hóa giữa ách thống trị tư bạn dạng và thống trị vô sản của thế kỷ 19 và tranh chấp thống trị trong nội bộ một non sông nhẩn nha được thay thế bằng tranh chấp giữa các giang sơn.
Trong khi sẽ quan niệm nghĩ là lập luận này đi ngược với trào lưu thế giới hóa với đa dạng loại hiệp định thương nghiệp hòa bình kiểu mới. Tuy nhiên, những hiện tượng dân tộc chủ nghĩa, bảo hộ trong nước đang dần lan rộng ở nhiều nước như Trung quốc, Nga, gần đây là Brexit ở Anh, Durtete ở Philippines hay Trumph ở Mỹ là những minh chứng rõ ràng cho thiên hướng này. Những người nghèo ở nước có năng lực tài chính thấp muốn sắm phương pháp kháng cự thiên hướng này bằng bí quyết sang nước giầu để trở thành công dân của nước giầu như trào lưu người nước ngoài vào định cư tại đất nước nhà diễn ra mạnh mẽ ở Châu Âu cũng là một tỉ dụ điển hình khác của trào lưu bảo hộ và dân tộc kiểu mới.
Một điểm mới trong nền kinh tế tri thức là, có sự đổi mới về cách thức chiếm đoạt TLSX, khoáng sản tự nhiên: phổ biến học giả nghĩ là nền kinh tế tri thức là nền kinh tế phi trọng lượng, trong đó hàng hóa kiến thức thức có trị giá cao quan trọng hơn nhiều so với hàng hóa vật chất, vì vậy những ngành nghề kinh tế dựa trên kĩ nghệ cao phải choán những vị trí cao hơn các ngành nghề truyền thống như nông nghiệp, khoáng sản, các chiến lược sản xuất kinh tế bởi thế cũng luôn có ưu tiên cho các cấp công nghệ mới như CMCN4 này…
Câu hỏi đặt ra là người nước phú quý cần ăn, có cần mặc, có cần dùng hàng hóa vật chất không? Tôi cam kết rằng câu giải đáp là có, họ đều phải ăn, mặc, và có nhu cầu sử dụng hàng hóa vật chất. Tuy thế, họ sẽ làm được bằng bí quyết nào? Bằng cách thức trao đổi hàng hóa tri thức hay phục vụ để lấy hàng hóa vật chất (mà tôi gọi là đổi trí tuệ lấy vật chất - exchange of Mind for Mass).
Vấn đề đặc biệt cần chú ý là phương thức trao đổi luôn luôn bất đồng đẳng, phân biệt đối xử giữa hàng hóa vật chất và hàng hóa phi vật chất. Các “tiêu chuẩn kép” trong toàn cầu hóa bộc lộ qua một loạt định chế của WTO như Hiệp định về thương mại phục vụ GATS, Hiệp định về nông nghiệp AoA, Hiệp nghị về thương mại can hệ đến quyền chiếm hữu trí tuệ TRIPS[5].
Những tiêu chuẩn kép này còn thể hiện rõ ràng hơn trong các hiệp nghị thương mại tự do kiểu mới như Hiệp định xuyên Thái Bình dương TPP. Trong các hiệp định này, nếu hàng hóa vật chất phải chịu tiến công mã HS để kiểm soát qua biên cương, chịu thuế cũng như giữ vững về chất lượng cũng như qua các tiêu chuẩn, sự cản trở chất lượng thìi các hàng hóa kiến thức, phục vụ như phục vụ CNTT và thương nghiệp điện tử không chịu một mã HS nào, bởi thế khi mua bán qua biên giới không chịu giữ vững, không chịu áp thuế, cũng như khó có thể đưa ra sự cản trở về chất lượng.
Một điểm quan trong nữa trong nền kinh tế tri thức là hàng hóa vật chất luôn có giá trị rẻ (mặc dù giá dùng có thể rất cao), thậm chí rất rẻ so với hàng hóa phi vật chất. Một ví dụ đã mắt là 2,6 tấn gạo vn xuất khẩu đổi được 1 chiếc iPhone 7+, còn bán bao nhiêu tấn gạo để tậu được 1 chiếc Boing 787 Dreamliner cho Việt Nam Airline? Sự khác biệt về giá này đi ngược lại hoàn toàn những quy luật căn bản nhất của nền kinh tế truyền thống là quy luật giá trị và quy luật cung cầu trong các học thuyết kinh tế, trong đó có triết lí Marx.
Theo quy luật trị giá thì đóng chai và trao đổi hàng hóa dựa trên hạ tầng tổn hao lao động thị trấn hội quan trọng, còn theo luật cung cầu thì giá hàng hóa dựa vào vào sự yếu tố chỉnh của thị trường khi đạt mức thăng bằng giữa cung và cầu. Theo các quy luật này, hàng hóa có giá trị cao là hàng hóa có ý định dùng cao hoặc là cung khan hi hữu hoặc có hao phí công huân phường hội cao và ngược lại giá rẻ thì nhu cầu thấp hoặc do cung thừa hoặc hao tổn công trạng thấp.
Tuy nhiên thực tế thì hàng hóa vật chất luôn có ý định cao, phổ biến hàng hóa chỉ một người dùng được một lần, thành ra ngày trở thành khan hi hữu, thậm chí hết sạch dài lâu (không như ở thế kỷ 19 thời sự khan thi thoảng mang tính tương đối, tạm thời thời). Hàng hóa kiến thức thì không khan hi hữu. 1 ứng dụng, một dịch vụ, một vật phẩm trí não có thể sao chép để rất nhiều người sử dụng đa dạng lần. Sự khan hãn hữu này được tạo ra một bí quyết nhân tạo phê duyệt các quy định về bảo hộ về sở hữu trí tuệ.
Như vậy, trong nền kinh tế tri thức, các định chế nhạo đang đi ngược lại các quy luật kinh tế cơ bản nhất là cung cầu và giá trị, đang phát ra 1 dấu hiệu khôn xiết sai trái về sự dôi thừa store hóa vật chất và sự khan thảng hoặc của hàng hóa phi vật chất khi mà đúng ra phải là ngược lại. Cũng vì vậy, nền kinh tế tri thức tạo ích lợi cho phân khúc giàu, người sở hữu TLSX trong đó có tri thức cao hơn hẳn người nghèo.
Can dự đến công trạng: công lao chân tay dần bị thay thế bởi máy móc khác biệt bởi tự động hóa cho dù công nghiệp mới cũng có thể phát hành việc chăm chút nhưng có bất chợt phát hành công việc mới. Sự thay thế loài người bằng máy móc, đặc biệt là CNTT và tự động hóa sẽ diễn ra khốc liệt hơn, dẫn tới nạn thất nghiệp sẽ ngày một trầm trọng hơn khác biệt là những công phu trình độ thấp nếu như không có những sự đối phó kịp thời và phù hợp. Vì vậy, việc tập huấn nhân công về mặt kĩ nghệ và kiến thức mới cũng như xây đắp một môi trường cung cấp thông minh là sống còn để thích nghi cuộc cách mạng kĩ nghệ này.
Các thay đổi cơ bản của nền kinh tế tri thức đã và đang dẫn tới nguy cơ suy kiệt khoáng sản dẫn đến nguy cơ về sự tồn vong của các nước có năng lực tài chính thấp trong khi các nước giầu đang giữ được khoáng sản cho tương lai, hút rỗng ruột các nước có năng lực tài chính thấp như nhện thò vòi hút sạch sẽ máu của con mồi cho tới khi chết mà không cần phải trực tiếp sang xâm chiếm. Các nước nghèo như Việt Nam có thể vẫn giữ được những giếng dầu, mỏ than nhưng là các giếng dầu, mỏ than rỗng ruột.
Tương tự, CMCN4 chỉ là một quá trình của cách mạng CNTT, của nền kinh tế kiến thức. Kinh tế kiến thức là sự phát triển cao của kinh tế tư phiên bản với những thay đổi cơ bản về tạo trị giá, chiếm hữu khoáng sản và phân công tích động mang tính thế giới. Những thay đổi căn bản này đòi hỏi vietnam cần sớm có các phân tích thấu đáo, toàn vẹn, kịp thời về nền kinh tế này nhằm có các chế độ phù hợp./.
Ts. Nguyễn Thanh Tuyên và Ths. Trương Hữu Bình thường
Xem nhiều hơn: maybomtangap
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét